Những điều cần biết về Nevus khổng lồ sắc tố bẩm sinh.

Nevus sắc tố bẩm sinh là gì?

Nevus (hay nơ vi) nhìn chung nghĩa là “bớt bẩm sinh”, và được dùng để mô tả hầu hết các dạng mụn ruồi hay bớt bẩm sinh.

  • Nếu hắc tố bào tạo ra bớt bẩm sinh, thì được gọi là nevus sắc tố hay nơ vi hắc tố bào
  • Nếu xuất hiện lúc sinh thì được gọi là bẩm sinh. Trong 50 đến 100 người thì sẽ có 1 người sinh ra có nơ vi sắc tố nhỏ
  • Nơ vi sắc tố có nhiều kích thước từ nhỏ, như kích thước đầu đinh gim đến rộng, một số dạng hiếm có thể bao phủ diện rộng cơ thể. Những cái rộng nhất được gọi là nơ vi khổng lồ, cứ mỗi 20.000 bé sinh ra sẽ có một bé bị, những nơ vi càng lớn thì càng hiếm gặp.

Nơ vi sắc tố bẩm sinh có hình dạng như thế nào?

Mỗi nơ vi sắc tố bẩm sinh đều khác biệt. Mọi người bất kể chủng tộc và màu da đều có thể có. Nơ vi sắc tố bẩm sinh tiến triển tỉ lệ thuận với tốc độ phát triển của bé. Nói cách khác, nó sẽ bao phủ vùng da cơ thể tương đương lúc sinh. (Ngoại trừ nơ vi sắc tố bẩm sinh tiến triển chậm, có nghĩa nó xuất hiện sau sinh và sau đó tiếp tục tiến triển, hay đôi khi một vùng lợt màu và sau đó sẽ tiến triển và đậm màu hơn sau vài tháng). Có thể dự đoán kích thước của một nơ vi sắc tố bẩm sinh sau này bằng cách nhìn kích thước và vị trí của nó lúc mới sinh.

Vị trí:

Nơ vi sắc tố bẩm sinh có thể ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể: lòng bàn tay, lòng bàn chân, da đầu hay thậm chí ở trong miệng.

Màu sắc:

Thông thường một số có màu từ nâu đến đen, đôi khi có màu hơi đỏ. Thường nó có màu sắc hỗn hợp với những mảng nhỏ với nhiều màu khác nhau trên nền cứng. Nơ vi sắc tố bẩm sinh lúc sinh thường có màu đen đậm, hay thậm chí màu tím đậm/đỏ do nó có nhiều mạch máu nhìn thấy được dưới một bề mặt mỏng. Màu sắc có thể thay đổi khi đứa trẻ lớn. Nếu thay đổi, chúng thường trở nên lợt màu, nhưng cũng có thể đậm hơn nhất là ở những nơ vi lúc đầu sáng màu hay dạng đốm. Lợt màu thường xuất hiện ở những trẻ tóc đỏ, hay lợt màu và da trắng hơn là trẻ có màu da và tóc tối hơn.

Mọc lông:

Nơ vi sắc tố bẩm sinh thường có lông mọc lên, mặc dù thường không thấy lúc mới sinh và không phát hiện được sau đó. Cọng lông có thể đậm màu hơn, tương đương hay đôi khi lợt hơn màu tóc. Nếu nơ vi ở trên đầu thì thường có nhiều tóc hơn trên vùng da đó và mọc nhanh hơn vùng còn lại của da đầu. Nơ vi sắc tố bẩm sinh trên thân người nhỏ hay lớn đều có thể có lông tận, nhìn rõ và dày hơn. Đôi khi, nơ vi sắc tố bẩm sinh hoàn toàn không có lông, ngay cả những nốt mọc trên da đầu, hay có mảng không có tóc hay tóc mất sắc tố (màu xám hay trắng).

Cấu trúc da:

Cấu trúc da của nơ vi sắc tố bẩm sinh lớn thường khác với vùng da bình thường, đôi khi mềm hơn, lỏng lẻo hơn và nhăn hơn. Nơ vi sắc tố bẩm sinh có thể phẳng hay gồ ghề, lục cục.

Số lượng:

Số lượng nơ vi sắc tố bẩm sinh có thể tiếp tục tăng dần sau sinh, mặc dù cũng không phải luôn luôn như vậy. Thông thường nó thường tăng số lượng trong những năm đầu đời trong khi biểu hiện từng cái lại thường hay tiến triển chậm dần. Tuy nhiên, chúng thường tương đối nhỏ. Những nơ vi mới này thường được gọi là “vệ tinh”, bác sĩ thường nhận định là tiến triển chậm. Có nghĩa là chúng đã có mặt ở đó dưới dạng không sắc tố và rải rác lúc mới sinh. Sự xuất hiện của các nơ vi mới này có khuynh hướng thường gặp ở trẻ có nhiều nơ vi sắc tố bẩm sinh với kích thước lớn, nhưng bản thân nó không có gì phải lo lắng.

Cần giúp cho những người có nơ vi sắc tố bẩm sinh như thế nào?

Câu trả lời ngắn nhất là, tiếp tục tìm hiểu

Nếu bạn có một đứa con mới sinh có một nơ vi, ngay lập tức bạn sẽ tìm hiểu rất nhiều thông tin. Một số có ích, nhưng không phải tất cả thông tin bạn muốn đều có. Điều quan trọng là bạn cần ngưng làm điều đó và định hướng bản thân. Tập trung vào việc lo cho đứa bé và vui mừng chào đón con, sau đó lọc ra những câu hỏi thiết yếu nhất, và bắt đầu từ đó.

Bản thân bạn có thể có một nơ vi sắc tố bẩm sinh, nhưng không biết nó gọi là gì, nhiều người khác cũng giống như vậy. Họ có mặt trên khắp thế giới và bạn có thể gặp và học hỏi từ họ.

Chúng tôi đề nghị bạn nên liên kết với hàng ngàn người hiểu những gì bạn đang trải qua thông qua các nhóm hỗ trợ trong nước của bạn. Nếu nước bạn chưa có, các hiệp hội có sẵn sẵn sàng giúp bạn trả lời câu hỏi từ mọi quốc gia. Các bạn liên kết trong hệ thống sẽ được trấn an rất nhiều. Để biết danh sách các cộng đồng trực tuyến và trang web liên kết bệnh nhân, vui lòng nhấp chuột vào đây.

Đừng tự cam chịu một mình!

Bạn có thể tìm thấy một lượng lớn thông tin trên trang web hiệp hội nơ vi toàn cầu của chúng tôi và trang web hội thành viên.

Biểu hiện lâm sàng

Độ mỏng manh:

Một số nơ vi sắc tố bẩm sinh mỏng manh hơn da bình thường, đặc biệt ở trẻ mới sinh. Do đó da  sẽ dễ bị tồn thương khi có chấn thương hay va đụng. Tuy nhiên, chúng không dễ chảy máu hơn da bình thường, và có khuynh hướng lành nhanh với sẹo ít.

Độ khô

Một số nơ vi sắc tố bẩm sinh  khô hơn vùng da xung quanh nó, do đó không nên dùng xà phòng, và cần được dưỡng ẩm thường xuyên (bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn). Đôi khi, nơ vi sắc tố bẩm sinh rất ngứa. Nguyên nhân là do khô da, không cần phải dùng loại kem có độ ẩm quá nhiều dùng trị khô hay chàm trong nơ vi sắc tố bẩm sinh, hay chưa có lý do rõ ràng để sử dụng (mặc dù vấn đề này hiện đang được nghiên cứu). Có thể giảm ngứa bằng các loại kem hay pommade được kê đơn, điều trị lạnh, tắm bằng bột bắp hay yến mạch, hay liệu pháp rung.

Giảm mỡ dưới da

Thường gặp ở nơ vi sắc tố bẩm sinh kích thước lớn. Điều này được giải thích là sự xuất hiện của nơ vi sắc tố bẩm sinh  ảnh hưởng đến việc hình thành lớp mỡ, bình thường hiện diện giữa lớp da ở trên và cơ, xương bên dưới. Điều đó dẫn đến nơ vi sắc tố bẩm sinh lõm xuống dưới da nói chung, chân, tay, mông, mặt, và rõ ràng làm vùng đó ốm hơn bình thường. Vùng ốm này có chức năng bình thường, ví dụ: chân ốm nhưng khỏe, do ốm chỉ vì do ít mỡ nhưng không ít cơ.

Không còn tuyến mồ hôi:

Mặc dù không ảnh hưởng toàn thân, một số dạng nơ vi sắc tố bẩm sinh lớn hay thô ráp có thể có ít tuyến mồ hôi trong nơ vi. Do đó, những người có nơ vi sắc tố bẩm sinh  thường khó chịu hơn khi quá nóng trong những ngày hè hay trong khi vận động thể thao. Giải pháp là mang độ ẩm ra bên ngoài da bằng cách đội nón ướt hay mặc áo ướt, xịt nước khoáng, có thể giúp cải thiện việc bài tiết mồ hôi bằng cách làm bốc hơi qua da. Các vùng da khác sẽ tiết mồ hôi nhiều hơn bù trừ, do đó uống nước thật nhiều là rất quan trọng.

Vấn đề thần kinh:

Vấn đề về não và tủy sống là biến chứng nghiêm trọng nhất gặp ở trẻ em có nơ vi sắc tố bẩm sinh. Bởi vì các tế bào sắc tố tìm thấy ở da và màng não phát triển từ cùng những tế bào não trong thời kỳ phôi thai sớm, người có nơ vi sắc tố bẩm sinh  có thể có khác biệt ở não và tủy sống. Khoảng 1 trong 15-20 người có nơ vi sắc tố bẩm sinh  lớn và khổng lồ có dư hắc tố bào trong não và tủy sống. Nó dẫn đến biến chứng tăng tế bào sắc tố da thần kinh. Các nghiên cứu trước đây dùng từ tạo melanin, từ trước đó nghĩa là nhiều hắc tố bào hơn, còn từ này là nhiều sắc tố hơn. Không dễ đánh giá sự khác biệt này nếu không sử dụng các biện pháp xâm lấn và sự đánh giá này cũng không quá quan trọng đối với bệnh nhân thời điểm đó.  Một số biến chứng hiếm khác gồm có u hay nang lành tính ở não hay tủy sống, nhiều dịch trong não (não úng thủy), hay bất thường cấu trúc não. Tất cả các biến chứng ở thần kinh này thường gặp ở các trường hợp có nơ vi sắc tố bẩm sinh với số lượng lớn và kích thước lớn, nhưng không liên quan đến vị trí của chúng. Nói cách khác, có một nơ vi sắc tố bẩm sinh trên não hay tủy sống không tăng nguy cơ có các biến chứng thẩn kinh. Một số khuyến cáo từ Anh quốc và một số nước khác nhưng không phải tất cả cho thấy bất kỳ trẻ nào sinh ra có từ 2 nơ vi sắc tố bẩm sinh trở lên nên chụp cộng hưởng từ MRI vùng não và tủy sống, ưu tiên trước 6 tháng tuổi. Không phải là bất thường cộng hưởng từ không bao giờ gặp ở trẻ có duy nhất một nơ vi sắc tố bẩm sinh, nhưng tỉ lệ này là rất thấp. Bạn có thể tải về một số ít khuyến cáo về chụp cộng hưởng từ MRI dưới dạng một tờ giấy in sẵn bằng tiếng anh từ địa chỉ này, và mang đến đưa cho bác sĩ chẩn đoán hình ảnh thần kinh.

Tần suất chung tìm thấy bất thường trên chụp cộng hưởng từ ở não và tủy sống ở những trẻ có nơ vi sắc tố bẩm sinh số lượng nhiều và kích thước lớn là khoảng 25%, nhưng chỉ khoảng phân nửa số trường hợp là thật sự có vấn đề về thần kinh. Cần tầm soát: động kinh, chậm phát triển, bất thường phối hợp tay chân, ói nhiều và nhức đầu không liên quan đến nhiễm trùng hay sốt, đi nhón chân hay đái dầm, có thể là dấu hiệu của bệnh tủy bám thấp. (nhưng một số triệu chứng cũng thường gặp ở trẻ và bạn không nên lo lắng quá)

Kể cả kết quả chụp bình thường cũng có thể có phát triển bất thường tuy nhiên nó thường nhẹ. Lý do làm cộng hưởng từ là để chọn ra các ca hiếm có khối u, nang hay tụ dịch ở não cần phẫu thuật, và cần theo dõi kỹ thần kinh những trẻ này. Hiện tại không thể chữa được những tế bào sắc tố trong não hay tủy sống, nhưng động kinh gặp ở nơ vi sắc tố bẩm sinh có thể đáp ứng với điều trị truyền thống và phẫu thuật, cũng như nang hay tủy bám thấp.

Chúng tôi cũng đề nghị những trẻ có nơ vi sắc tố bẩm sinh có đường kính lớn hơn 20 cm (8 inches) cần được theo dõi thường xuyên để phát hiện những bất thường thần kinh, ngay cả khi chỉ có 1 nơ vi sắc tố bẩm sinh. Ngoài ra, bất kể trẻ nào có nơ vi sắc tố bẩm sinh mà có triệu chứng thần kinh như mô tả ở trên cần chụp cộng hưởng từ.

Những vấn đề về thần kinh không xảy ra ở người lớn có nơ vi sắc tố bẩm sinh nếu như từ nhỏ hay dậy thì không xuất hiện.

U hắc tố bào ác tính

U hắc tố bào là ung thư hắc tố bào, tế bào da tạo ra sắc tố và tạo ra nơ vi sắc tố bẩm sinh. Trước đây, u hắc tố bào được cho là thường gặp ở người có nơ vi sắc tố bẩm sinh, nhưng bây giờ chúng ta đã biết là tương đối hiếm chỉ xảy ra khoảng 1-2% trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, nguy cơ sẽ gia tăng ở những người có nơ vi sắc tố bẩm sinh lớn và nhiều, khoảng chừng 10%, và nguy cơ cao nhất lúc còn nhỏ. Khi nhận định vấn đề này, bạn cần nhớ rằng mỗi người chúng ta đều có nguy cơ khoảng 40% phát triển một khối u ác tính tại thời điểm nào đó trong suốt cuộc đời.

U hắc tố bào ở người có nơ vi sắc tố bẩm sinh có thể xảy ra bất kỳ chỗ nào, không chỉ ở các nơ vi sắc tố bẩm sinh, và cũng không chỉ ở trẻ em. Nó có thể biểu hiện là một nốt trong nơ vi sắc tố bẩm sinh, hay ở vùng da khác trong cơ thể, hay trong các hạch lympho (xuyên suốt cơ thể). Hơn phân nửa số trường hợp, nó xảy ra trực tiếp trong não hay tủy sống, và khi đó sẽ biểu hiện là nhức đầu dai dẳng với buồn nôn/ nôn, hay nhìn mờ, mất thăng bằng, giống như các khối u khác.

Không may là khi u hắc tố bào ác tính xảy ra ở người có nơ vi sắc tố bẩm sinh thì thường nặng và khó điều trị. Chúng tôi đề nghị là bất kỳ vùng da nào tiến triển nhanh cần được tham khám bởi bác sĩ có kinh nghiệm, để bác sĩ xem coi có nên sinh thiết hay không. Nhưng nhớ rằng, nốt, cục, thay đổi màu sắc thường hay xảy ra ở nơ vi sắc tố bẩm sinh, và phần lớn là hoàn toàn vô hại. Bác sĩ sẽ chụp hình nhiều lần, soi da, sờ nắn nơ vi và sẹo, kiểm tra hạch lym pho và thăm thám toàn thân để phát hiện sớm u hắc tố bào. Tương tự vậy, chỉ những nhà giải phẫu bệnh giỏi mới phân biệt một khối nơ vi sắc tố bẩm sinh đang tiến triển “giống với u hắc tố bào”, do đó nếu bị xác nhận là u hắc tố bào, bạn nên tham khảo thêm ý kiến khác.

Chúng tôi đề nghị những trẻ mới xuất hiện các vấn đề về thần kinh như nhức đầu tái đi tái lại, rối loạn thị giác, co giật, hay phát triển bất thường thì cần phải được thăm khám ngay bởi bác sĩ chuyên khoa, như bác sĩ thần kinh nhi khoa, chẩn đoán hình ảnh thần kinh, với sự kết hợp nhiều chuyên khoa ngay lập tức.

Thử thách về mặt tâm lý

Người có nơ vi sắc tố bẩm sinh đôi khi bị mọi người dòm ngó, nhìn chằm chằm, hay chỉ trỏ.

Trẻ em có nơ vi sắc tố bẩm sinh nổi bật hay nhiều có thể có khó khăn trong việc thích nghi, đặc biệt trong giai đoạn tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, điều này cũng thay đổi tùy thuộc vào tính cách của mỗi bé và vào sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè. Bé có thể biểu hiện lo lắng, trầm cảm, hay tự ti.

Các thành viên trong gia đình đôi khi hi vọng rằng nơ vi sẽ “mờ” đi và những biến chứng cũng sẽ biến mất. Một số nơ vi sắc tố bẩm sinh lớn sẽ mờ dần theo thời gian, nhưng bớt bẩm sinh và các biến chứng sẽ vẫn duy trì. Bản thân bệnh nhân cũng như người thân cần thởi gian để thích nghi.

Thật là lí tưởng nếu chúng ta có thể cho người bệnh được tư vấn tự động khi còn bé, và hỗ trợ gia đình họ. Một số bệnh viện lớn (Great Ormond Street, London, U.K.; Hôpital Necker – Enfants Malades; Zürich) hiện tại có dịch vụ tư vấn tâm lý cho các bệnh nhân có nơ vi sắc tố bẩm sinh. Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng muốn được tư vấn, cũng như nhiều bệnh viện cũng như phòng khám tư nhân chưa có dịch vụ này.

Changing Faces là một ví dụ về nhóm hỗ trợ các loại khiếm khuyết hình dạng, họ đã có những hướng dẫn và thông tin hữu ích bằng tiếng anh. Địa chỉ trang web lả www.changingfaces.org.uk. Một số tài liệu được điều chỉnh cho bệnh nhân có nơ vi sắc tố bẩm sinh, (bằng tiếng anh), có sẵn ở đây và sẽ được dịch sang các ngôn ngữ khác trên trang web này.

Lựa chọn điều trị

Một trong những câu hỏi thường gặp làm “chúng ta nên làm gì?” Ta luôn nghĩ y học hiện đại sẽ có phép màu để điều trị nhưng thật sự không có câu trả lời màu nhiệm nào.

Nhiều người có nơ vi lớn hay ngứa hay khó chịu. Có thể sử dụng kem hay lotion để giảm cảm giác khó chịu. Nhưng điều quan trọng cần lưu ý là không có kem, lotion hay bất cứ thuốc thoa ngoài da nào có thể loại bỏ nơ vi trên da. (có nhiều thuốc khi bôi trên da sẽ làm tổn thương hay kích ứng da, do đó không nên dùng các loại kem làm trắng, vì nó mạnh và đôi khi gây độc)

Tuy nhiên, nhiều người bệnh trên thế giới đã tập hợp lại trong hội này kêu gọi tiến hành những nghiên cứu mới. Chúng ta cần nhiều sự chọn lựa và điều trị tốt hơn!

Sống cùng với nơ vi

Chống nắng

Người có nơ vi sắc tố bẩm sinh nên tận hưởng một cuộc sống bình thường. Tất cả người có nơ vi sắc tố bẩm sinh đặc biệt là trẻ em nên dùng kem chống nắng tốt-giống như loại ta hay khuyến cáo cho trẻ em. Đặc biệt quan trọng là cần tránh bỏng nắng.

Nói chung: tránh nắng, kết hợp với che chắn kỹ, còn hiệu quả hơn kem chống nắng. Kem chống nắng tốt chứa hàng rào phản chiếu như titanium dioxide; chọn có yếu tố bảo vệ SPF cao, lí tưởng là >= 25, và bảo vệ chống lại UVA cao nếu được chỉ định. Cần bôi kem chống nắng trở lại sau mỗi 2 tiếng, thường xuyên hơn khi bơi hay chảy mồ hôi.

Tránh nắng

Người có nơ vi sắc tố bẩm sinh nên tránh ánh nắng chiếu trực tiếp càng nhiều càng tốt trong những giờ nóng nhất trong ngày và các tháng nóng nhất trong năm, ví dụ, trú trong bóng râm. Giờ nóng nhất trong ngày là từ 10g sáng đến 4 giờ chiều. Trong hầu hết nửa bán cầu bắc, những tháng nóng nhất trong năm là từ tháng 4 đến tháng 10. Còn bán cầu nam, thì từ tháng 10 đến tháng 4 cẩn tránh nắng.

  • Nhiễm tia cực tím nhiều hơn trong nước hay tuyết, nên cần cẩn thận hơn khi đi bơi ở ngoài hay trượt tuyết.
  • Độ cao càng cao thì ánh nắng mặt trời có hại hơn
  • Ngay khi trời nhiều mây ánh nắng mặt trời vẫn gây hại, do đó người có nơ vi sắc tố bẩm sinh nên mặc đồ che chắn cẩn thận ví dụ đội nón trong khoảng thời gian nóng nhất trong năm.
  • Bóng râm không bảo vệ nhiều khi ở gần nước hay tuyết, hay khi trời nhiều mây, bởi vì tia cực tím phản chiếu trong bóng râm.
  • Người có nơ vi sắc tố bẩm sinh không tăng nguy cơ ung thư da do nơ vi sắc tố bẩm sinh so với người bình thường

Theo dõi người có nơ vi sắc tố bẩm sinh mà không can thiệp phẫu thuật

Cắt bỏ nơ vi sắc tố bẩm sinh là một quyết định cần cân nhắc kỹ sau khi tham vấn với hơn một bác sĩ chuyên khoa đáng tin cậy. Nhiều bệnh nhân có nơ vi sắc tố bẩm sinh lớn hay gia đình nếu bản thân chưa thể tự quyết định thường chọn lựa phương pháp không phẫu thuật vì nhiều lí do.

Phẫu thuật cắt bỏ nơ vi sắc tố bẩm sinh

Khi cắt bỏ nơ vi nhỏ, bờ của da xung quanh sẽ được kéo lại với nhau và khít lại. Phẫu thuật cắt bỏ nơ vi lớn thì cần da thay thế vùng da bị mất. Da có thể được ghép từ vùng da khác (ghép da), hay vùng da gần đó sẽ được dãn ra rồi bao phủ vùng da của nơ vi bị cắt bỏ (sự lan rộng của mô). Có nhiều điều về phẫu thuật mà bạn cần xem xét và tốt nhất là nên tham vấn một bác sĩ phẫu thuật kinh nghiệm trong việc điều trị nơ vi lớn. Tất cả các phương pháp hiện nay có thể thực hiện không trình bày hết trong tóm tắt này.

Chúng tôi đề nghị bạn nên tìm hiểu nhiều ý kiến chuyên môn khác nhau và liệu pháp giảm đau trước khi tiến hành bất kỳ thủ thuật cắt bỏ nào

Có nhiều laser thành công trong việc điều trị tổn thương da mặt nông, nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn được một nơ vi sắc tố bẩm sinh. Laser có thể hủy được những tế bào bề mặt của một số nơ vi và một số bác sĩ đôi khi cũng đề nghị phương pháp này. Một số báo cáo cho thấy thành công trong việc làm mất sắc tố bằng laser, nhưng một số khác lại chưa thấy có hiệu quả cao. Một khi nơ vi sắc tố bẩm sinh không được loại bỏ hoàn toàn, thì bất kể một phương pháp nào thực hiện, những tế bào còn lại cũng có khuynh hướng tạo sắc tố trở lại một phần hay hoàn toàn. Điều trị laser ở trẻ em cần gây mê.

Có nhiều câu hỏi tương tự đối với điều trị laser trên lông mọc trên nơ vi như là laser, có thể phơi bày mô xung quanh đến những liều lượng ánh sáng dưới ngưỡng hay tạo nhiệt, nhưng một số bệnh nhân sử dụng cách này. Điều trị cần thực hiện nhiều lần. Phương pháp ly điện thì chậm và gây đau do đó không thích hợp cho các vùng tổn thương lớn. Phương pháp ít xâm lấn nhất để loại bỏ lông từ nơ vi sắc tố bẩm sinh là sử dụng dao cạo nhẹ nhàng, và làm ẩm da. Không nên sử dụng những kem tẩy lông vì chúng có thể gây kích ứng da. Cạo lông không ảnh hưởng đến số lượng, tốc độ hay độ dày của lông mọc trở lại.

Quan trọng là nhớ rằng không thể loại bỏ một nơ vi sắc tố bẩm sinh mà không để lại sẹo. Sẹo có thể nhỏ hơn nếu được thực hiện bởi bác sĩ phẩu thuật giàu kinh nghiệm, và cũng có thể một lúc nào đó nó tự tái cấu trúc trong cuộc đời, do đó bạn nên tìm một bác sĩ mà bạn có thể tin tưởng trong thời gian dài.

Điều trị những triệu chứng thần kinh

Cần kết hợp cùng bác sĩ thần kinh để đưa ra kế hoạch cụ thể nhằm thích nghi với căng thẳng mà các triệu chứng đó gây ra.

Nguyên nhân gây ra nơ vi sắc tố bẩm sinh?

Tôi sẽ đề cập đến vấn đề này sau, nhưng đây là vấn đề tiếp theo cần biết.


Thông tin này được trình bày bởi Veronica Kinsler, M.D., Ph.D.; Heather Etchevers, Ph.D.; Harper Price, M.D.

(để có các bản dịch sang tiếng khác, có thể đưa tài liệu này ra cộng đồng để những tổ chức có sẵn ở các nước khác có thể sử dụng được)